VIỄN CẢNH VÀ NHỮNG RÀO CẢN SAU PHÁN QUYẾT THUẾ QUAN TRUMP "VI HIẾN".
Hôm nay truyền thông quốc tế bàn tán sôi nổi vụ kết luận thuế quan Trump là phạm pháp này. Tuy nhiên, cần phải làm rõ là nó không bao trùm hết tất cả các loại thuế quan mà tập trung vào các loại thuế được áp theo Đạo luật Quyền năng Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA), bao gồm cả các mức thuế quan áp lên Canada, Mexico từ thuế "Fentanyl".
Tòa án Tối cao Mỹ - Supreme Court xác định rằng Đạo luật IEEPA (1977) được thiết kế để "phong tỏa tài sản" và "ngăn chặn giao dịch" với các thực thể thù địch trong tình trạng khẩn cấp (như khủng bố hoặc chiến tranh). Nó không chứa từ khóa "thuế quan" (tariff) hay "thuế nhập khẩu" (duty).
Vì thế, tòa lập luận rằng một quyết định có tác động kinh tế hàng tỷ USD và thay đổi cấu trúc thuế quốc gia không thể dựa trên một sự "ngầm hiểu" từ ngữ trong luật. Nếu Quốc hội muốn trao quyền đánh thuế cho Tổng thống, họ phải nói cực kỳ rõ ràng.
Hiến pháp Mỹ quy định chỉ Quốc hội mới có quyền đánh thuế. Việc Trump dùng IEEPA để đánh thuế đại trà đã biến "quyền điều tiết hành pháp" thành "quyền lập pháp về thuế" — một sự vi phạm nguyên tắc phân quyền.
Trong quá khứ, IEEPA đã từng được dùng để áp đặt các lệnh trừng phạt kinh tế toàn diện (ví dụ với Iran, Nga). Sự khác biệt ở đây là Tòa án đang tách biệt giữa "trừng phạt đối ngoại" (Foreign policy) và "tạo nguồn thu ngân sách" (Revenue generation).
NÓI MỘT CÁCH ĐƠN GIẢN, tòa nói rằng giờ chó Trump muốn đánh thuế trên IEEPA thì phải được Quốc hội thông qua một Act mới và quy định rõ ràng cả chữ tarriff trong đó, và áp dụng trong trường hợp cụ thể nào chứ không nói khơi khơi cảm tính được.
Theo các phân tích từ Tax Foundation và các nguồn khác cho biết phán quyết xóa bỏ khoảng 70–75% tổng thu thuế quan mới mà chính quyền Trump thu được hoặc dự kiến thu từ thuế quan IEEPA.
Phần còn lại (khoảng 25–30%) là từ các thuế quan Section 232 và các loại khác vẫn còn hiệu lực. Tức là cái mà Trump lên nói rằng không sao, mấy cái khác còn hiệu lực cả. Nhưng thực tế rằng những mục thuế đó đã có từ lâu (như mùa 1 của lão đánh vào chip và Trung Quốc).
Vì thế, Trump phải chơi một chiến thuật trì hoãn khác.
SECTION 122 LIỆU CÓ PHẢI PHÉP THẦN THAY THẾ CỦA TRUMP.
Theo một phản ứng đầu tiên, lão áp ngay 10% thuế quan toàn cầu dựa theo Section 122 (Trade Act 1974). Nó cho phép Trump áp thuế (lên tới 15%) trong tối đa 150 ngày để giải quyết "thâm hụt cán cân thanh toán nghiêm trọng".
Vậy thì "thâm hụt cán cân thanh toán nghiêm trọng" mà luật 1974 nói đến thực ra ám chỉ điều gì? Về mặt lịch sử, nó được viết ra năm 1974 trong bối cảnh rất cụ thể — sau khi Nixon phá vỡ hệ thống Bretton Woods năm 1971, đồng USD mất neo vàng và mất giá mạnh, dự trữ vàng của Mỹ cạn kiệt. Đó mới là "thâm hụt cán cân thanh toán nghiêm trọng" mà Quốc hội muốn nói đến — tức là tình huống khủng hoảng tiền tệ thực sự, không phải thâm hụt thương mại hàng hóa thông thường.
Mục 122 nhìn tổng thể cán cân thanh toán với tất cả các nước cộng lại — không phải từng nước riêng lẻ. Đây là điểm kỹ thuật quan trọng: luật không cho phép Trump nói "tôi thâm hụt với Trung Quốc nên áp thuế Việt Nam theo Mục 122". Mục 122 chỉ cho phép áp thuế toàn cầu đồng đều dựa trên tình trạng tổng thể của Mỹ với cả thế giới.
Trump đang áp thuế lên cả các nước EU lẫn Canada theo Mục 122 dù điều kiện pháp lý với các nước này còn yếu hơn nhiều so với Trung Quốc hay Việt Nam. Nếu bị kiện, tòa án sẽ hỏi thẳng: "Ông có bằng chứng nào cho thấy Mỹ đang trong tình trạng khủng hoảng cán cân thanh toán tổng thể không?" — và câu trả lời thực tế là không, vì dòng vốn vào Mỹ vẫn đang rất mạnh.
Vì thế, trong trường hợp khẩn cấp đối phó và trĩ hoãn thì Section 122 mà Trump đề ra có hiệu quả ngắn nhưng vẫn có khả năng bị bác bỏ nếu các công ty sản xuất, nhập khẩu kiện ra tòa như vừa rồi.
CHIẾN THUẬT TRÌ HOÃN CỦA DONALD TRUMP.
Về cơ bản, áp đặt ngay Section 122 là một chiến thuật trì hoãn 5 tháng của Trump vì nó dựa trên cảm tính Tổng thống trước tiên mà không cần thông qua Quốc hội để tìm cách áp đặt lên các điều luật khác cần nhiều thời gian và rào cản hơn.
- Section 338 (Tariff Act 1930):
Là một đạo luật từ thời kỳ "Đại khủng hoảng" (Smoot-Hawley) và chưa bao giờ được sử dụng trong thời hiện đại. Nó cho phép Tổng thống áp thuế lên tới 50% đối với bất kỳ quốc gia nào "phân biệt đối xử" với hàng hóa Mỹ. Tương tự 122, điều luật này chỉ cần Tổng thống "xác nhận như một sự thật" (finds as a fact) rằng có sự phân biệt đối xử. Điều này giúp né tránh các bước điều trần công khai kéo dài hàng tháng trời.
Tuy nhiên, cụm "finds as a fact" tuy có vẻ đơn giản nhưng vẫn phải đáp ứng tiêu chuẩn xem xét tư pháp (judicial review). Tòa án có thể kiểm tra xem việc xác nhận đó có "tùy tiện và độc đoán" (arbitrary and capricious) theo APA hay không — đặc biệt là dù là luật "cổ đại", nhưng điều luật này chưa từng được áp dụng nên rất có khả năng nếu Trump "khai quật" sẽ bị kiện và tòa xem xét chặt chẽ trong bối cảnh các tòa liên bang gần đây tỏ ra sẵn sàng can thiệp vào quyết định thuế quan của hành pháp hơn trước.
Vì thế, nếu có thể áp dụng, nó cũng sẽ trong phạm vi rất hẹp (ở mặt hàng cụ thể) chứ không toàn diện như thuế quan bị bác bỏ vừa qua.
- Section 232 trong Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962:
Section 232 cho phép Trump hạn chế nhập khẩu hoặc áp thuế nếu Bộ Thương mại xác định rằng hàng hóa đó nhập khẩu vào Mỹ với số lượng hoặc trong điều kiện đe dọa làm suy yếu an ninh quốc gia.
Trump đã áp section này cho các quy định đánh thuế thép, nhôm, chip và thiết bị điện tử, xe hơi từ Trung Quốc.
Thực tế quân đội Mỹ chỉ tiêu thụ khoảng 3% tổng lượng thép nội địa. Tuy nhiên, chính quyền vẫn dùng Mục 232 vì họ cho rằng nếu không có 97% nhu cầu dân dụng để nuôi sống các nhà máy, thì 3% phục vụ quân đội kia cũng sẽ biến mất vì các nhà máy bị phá sản.
Tuy nhiên, lập luận đảm bảo an ninh quốc gia của Trump là nếu Mỹ phụ thuộc hoàn toàn vào thép/nhôm nhập khẩu, khi xảy ra xung đột vũ trang hoặc đứt gãy vận tải biển, họ sẽ không có nguyên liệu để sản xuất vũ khí mới.
Đồng thời, 2 mặt hàng này là thành phần chính của lưới điện quốc gia, đường ống dẫn dầu khí, cầu cống và hệ thống đường ray. Nếu ngành thép nội địa sụp đổ do hàng giá rẻ tràn ngập, Mỹ sẽ trở nên "mong manh" vì phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài cho các dự án hạ tầng sống còn.
Chính phủ Mỹ lập luận rằng họ cần bảo hộ các nhà máy trong nước để đảm bảo các lò luyện vẫn "đỏ lửa" và công nhân vẫn giữ được tay nghề (skills) khi cần huy động khẩn cấp.
Có thể thấy, section 232 này sẽ đặt ở phạm vi khá hẹp về định nghĩa và diễn giải an ninh quốc gia. Tuy nhiên, nó khá khó bị tòa án phản bác vì đã được Bộ Thương Mại điều tra và chấp thuận, trừ khi bị đơn đủ cơ sở bác bỏ lập luận tác động đến an ninh quốc gia của Bộ Thương Mại.
- Section 301 (Trade Act 1974):
Đây là một đạo luật ra đời vào đầu thập niên 1970 thay thế cho Section 252 (năm 1962) trong bối cảnh kinh tế Mỹ gặp khó khăn: thâm hụt thương mại tăng cao và các đối tác (đặc biệt là Châu Âu và Nhật Bản) bắt đầu dùng nhiều "chiêu trò" phi thuế quan để chặn hàng Mỹ. Có thể nói, Section 301 ra đời trong bối cảnh Mỹ muốn "mở cửa thị trường nước ngoài" bằng vũ lực kinh tế.
Để lấy lại thế cân bằng, Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật Thương mại năm 1974, trong đó Mục 301 thay thế hoàn toàn Mục 252 cũ (chỉ áp dụng cho nông nghiệp) cho phép Mỹ tự điều tra, tự kết luận và áp thuế bất cứ hành vi gân cản trở thương mại hàng hóa và dịch vụ của Mỹ mà không cần phải chờ đợi sự đồng ý của bất kỳ tổ chức quốc tế nào.
Đến năm 1988, khi Nhật Bản trỗi dậy mạnh mẽ và thâm hụt thương mại của Mỹ trở nên tồi tệ hơn, Mỹ đã nâng cấp nó thành "Super 301". Phiên bản này bắt buộc Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) hàng năm phải lập danh sách các quốc gia "chơi xấu" nhất và bắt đầu quy trình trừng phạt nếu họ không thay đổi.
Đến thế kỷ 21, điều luật này được áp dụng với các lý do phổ biến như Trộm cắp sở hữu trí tuệ, ép buộc chuyển giao công nghệ để Trump dùng đánh thuế hàng trăm tỷ USD hàng hóa Trung Quốc trong nhiệm kỳ 1.
Vì thế, có thể nói, Section 301 thường chỉ có thể nhắm vào một quốc gia cụ thể (ví dụ: Trung Quốc) thay vì đánh toàn cầu.
Đồng thời, như đã nói ở trên, để được kích hoạt, nó cần một quy trình điều tra của Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR), thường kéo dài từ 6 đến 12 tháng và phải lấy ý kiến công chúng.
KẾT LUẬN.
Sau khi tòa án bác phần lớn các loại thuế quan từ IEEPA, Trump phải lên truyền thông "dai xóa" các MAGA rằng không sao, anh có thừa cách.
Tuy nhiên, có thể thấy rõ rằng, nó không hề dễ dàng mà như là đòn trì hoãn của ngáo Trump.
Tung section 122 với định nghĩa mơ hồ nhưng được quyền ngay để áp tạm 10% cho các đối thủ đàm phán biết rằng tao vẫn còn đòn gió hắt hơi. Nhưng các section còn lại được Bessent lôi ra "chém gió" thì phạm vi áp dụng rất hẹp và khó nhằn với lâu. Cái nào áp được thì chắc cũng đã tìm cách áp rồi.
Thậm chí, Trump muốn dùng thuế để đem việc làm về Mỹ, nhưng việc lách luật qua các đạo luật cổ (như Mục 338) lại tạo ra rủi ro pháp lý lớn đến mức không doanh nghiệp nào dám xây nhà máy mới vì sợ chính sách thay đổi sau 150 ngày.
Mặc dù vậy, Trump vẫn có thể có nhiều chiêu trò hù dọa khác như các hàng rào phi thuế quan như các cơ chế cấp phép, lệnh cấm có mục tiêu, các hạn chế kiểu hạn ngạch.
Hay thậm chí lão có thể dọa các quốc gia nếu không chấp nhận thuế quan thỏa thuận thì sẽ đưa USTR điều tra để áp Section 301 (hành vi cản trở thương mại) hay Bộ Thương Mại áp Section 338 (phân biệt đối xử) để rồi có thể bị áp thuế lên tới 50% mà khó lòng kiện bác bỏ.
NÓI CHUNG, CHÓ THÌ VẪN GIỎI NHẤT LÀ SỦA THÔI.
"Effective immediately, all National Security TARIFFS, Section 232 and existing Section 301 TARIFFS, remain in place, and in full force and effect. Today I will sign an Order to impose a 10% GLOBAL TARIFF, under Section 122, over and above our normal TARIFFS already being charged..." - President Donald J. Trump